Nếu do sự giảm lưu lượng tiêu thụ từ mạng, áp suất ở 1 tăng lên, thì áp suất này khi được
đưa theo ống xung 2 đến thiết bị cơ dạng piston 3 sẽ khắc phục được lực đẩy của lị so và piston
4 chuyển động xuống. Cán của piston cĩ trạc 5, các vịi của nĩ sẽ cản trở tấm phẳng của van
nạp nằm tại đế. Lúc này quá trình nén sẽ khơng xảy ra bởi vì van nạp sẽ mở và khí từ xilanh sẽ
bị thải vào đường ống nạp qua van một chiều. Quá trình này sẽ xảy ra đến khi nào áp suất ở bể 1 cịn chưa giảm và
piston 4 sẽ khơng đẩy trạc 5 và khơng cản trở tấm phẳng nằm tại đế. Tĩm lại giảm lưu lượng
đạt được ở đây nhờ sự thải lưu lượng.


Phương pháp điều chỉnh này rất đơn giản, nhưng hiệu suất năng lượng nhỏ vì khi thải chỉ cần 15% cơng suất tồn phần. Pương pháp
này được sử dụng cho loại máy nén cĩ hệ số nén và lưu lượng bất kỳ.
Trong giai đoạn hiện nay, người ta sử dụng phương pháp mở khĩa nạp ở từng hành trình
của piston và cĩ thể thay đổi được lưu lượng của máy nén từ giá trị định mức đến 0,1 giá trị định
mức qua van bi dễ dàng.

Ngoài các phương pháp đã nêu trên còn dùng phương pháp:
Đóng tắt máy (khi công suất trên trục dưới 200kW); Bằng cách đưa khí từ khoang nén vào khoang nạp;
Bằng cách xả không tải từ mạng lưới qua van tự động.
Phương pháp đầu khá kinh tế, còn 2 phương pháp sau không kinh tế, nói chung rất ít
dùng. Thêm nữa, ngoài các van trên van cửa cũng rất thuận lợi cho các vấn đề phát sinh của máy nén.